Xây dựng các ao nuôi tôm trên cát

Xây dựng các ao hồ nuôi tôm trên cát khu vực Nam Trung Bộ. Cách triển khai 12 ao nuôi tôm, diện tích mỗi ao hồ từ (1000 ÷ 5000) m², chiều sâu mực nước trong ao h = (1.5 ÷2.0)m, tất cả các ao nuôi tôm được thiết kế dạng hình chữ nhật, hình vuông.

Ngày đăng: 27-11-2013

6017 lượt xem

XÂY DỰNG CÁC AO HỒ NUÔI TÔM TRÊN CÁT

Khu vực Nam Trung Bộ

1.Hình dạng, kích thước, vật liệu:

Đề tài triển khai 12 ao hồ nuôi tôm, diện tích mỗi ao từ (1000 ÷ 5000) m², chiều sâu mực nước trong ao h = (1.5 ÷2.0)m, tất cả các ao nuôi được thiết kế dạng hình chữ nhật, hình vuông.

2. Kết cấu công trình:

 Các ao nuôi tôm được đều sử dụng những tấm ni lon để phủ xung quanh bờ ao để chống thấm nước, và dùng loại bạt 1 lớp hay 2 lớp phủ để vừa chịu lực và giữ bờ, đồng thời bờ được gia cố bằng những bao xi măng chứa cát

Có ao dùng các bao xi-măng đựng cát xếp 2 ÷3 hàng từ đáy ao đến đỉnh bờ ao hồ, tạo thành tường chống áp lực nước

 

Hình 1

 

 

 

Chú thích:

- Máy quạt sục khí

- Trạm bơm lấy nước biển

- Ống tiêu nước thãi

- Giếng khoan lấy nước ngọt

- Giếng khoan lấy nước mặn ngầm (nếu không lấy trực tiếp từ biển)

- Các bao cát bảo vệ khu vực bên trên mực nước thường xuyên

- Nhựa ni long chống thấm (tabôlin)

- Khung bê tông dùng để cắm các trụ đỡ cánh quạt sục khí

-Riêng một số ao đã sử dụng những tấm pêtông kích cỡ (5x 40x40 cm) để xây xung quanh bờ ao. Qua 1 năm sử dụng cho thấy ao không bị hư hỏng, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cho ao hồ nuôi tôm.

3.Hệ thống cấp và thoát nước ao hồ tôm:

Hệ thống cấp nuớc :

Hệ thống cấp nước mặn từ biển hay từ giếng nước mặn qua hệ thống máy bơm công suất 10 -15 CV. Ngoài ra mỗi ao nuôi tôm có 1 - 3 giếng khoang  để lấy nước ngọt

Hệ thống thoát nước: dùng các ống PVC (Æ : 90 - 200 ) nối từ trong ao xuyên qua bờ ra hố ga ngoài ao.

4.Hệ thống cấp khí : Tất cả các ao đều bố trí hệ thống cấp khí là dàn máy đập,  mỗi ao có từ 1-4 dàn ngoài ra một số ao sử dúng hệ thống sục khí đáy.

5. Chống thấm và bảo vệ mái bờ và đáy ao

         Áp dụng các biện pháp sau:

Đắp đất sét chống thấm: Nếu gần khu vực ao nuôi tôm trên cát có nhiều đất sét, thì khai thác để phủ mái, đáy và bờ ao một lớp đất sét luyện dày 30 ÷50cm. Biện pháp này bảo đảm được chống thấm, tận dụng được vật liệu chống thấm tại chỗ nên giá thành thấp và công trình cũng bảo đảm ổn định lâu dài, nếu công tác quản lý ao tốt.

 

Hình 4

+ Lót đáy và mái bờ ao bằng màng chống thấm HDPE. Loại này có giá thành cao, nhưng tuổi thọ khá bền, nên chọn loại màng HDPE có chứa các thành phần chống oxy hóa, và chất ổ định UV, vì trong môi trường nắng cao và muối thì những sản phẩm không chất lượng mau xuống cấp dễ dàng bị vỡ khi tiếp xúc trong thờ gian dài.

+ Gia cố chống sóng và chống thấm mái và bờ ao bằng bê tông đổ tại chỗ. Chiều dày lớp bê tông từ 7 ÷10cm, cường độ bê tông đạt mác 150 ÷200. Phương pháp này có tuổi thọ cao, độ an toàn lớn, tuy nhiên vốn đầu tư ban đầu lớn.

+ Lót đáy và bờ ao bằng màng chống thấm, gia cố và bảo vệ mái bờ ao bằng tấm bê tông đúc sẵn ( hình 4)

;

     

6.Chi phí xây dựng ao nuôi tôm trên cát :

 

Chi phí xây dựng cơ bản bình quân 01 ha ao nuôi tôm trên cát ở Tỉnh Bình Định(1.000 đồng)

Chi phí

+ Xây dựng ao nuôi tôm 97.109

+ Hệ thống cấp nước mặn 17.671

+ Hệ thống cấp nước ngọt 8.800

+ Hệ thống cấp khí 32.760

+ Nhà sản xuất 14.711

+ Hệ thống đèn điện 8.760

+ Vật RTMH 2.479

+ Chi phí khác 6.198

Tổng cộng 188.488

 

Tính chi phí xây dựng  trung bình trên 1 ha ao nuôi là 188.488.000đ là

Giá trung bình so với  xây dựng ao nuôi tôm trên cát ở các tỉnh miền trung nằm trong khoảng 280 –500 triệu đồng/ha..

Đối với những ao xây bêtông xung quanh bờ, tiền xây dựng ao tăng lên 40.000.000 đồng/ha (tiền Xi măng + công xây lắp).

Đối với những ao trải màng chống thấm HDPE GSE Thái Lan, loại 0.5mm: 330,000,000 đồng/ha – thời gian sử dụng 15-25 năm

PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NUÔI THỬ NGHIỆM

Đề tài tiến hành theo qui trình nuôi tôm ít thay nước, áp dụng cho vùng có nguồn nước ngọt dồi dào. Các bước được tiến hành cơ bản như sau:

1. Chuẩn bị ao nuôi và thả giống :

- Tất cả các ao nuôi tôm được xây dựng xong, tiến hành rửa đáy ao. Lượng nước lấy vào ao nuôi tới mức dự tính thả giống. Đối với những ao lấy nước mặn từ giếng ngầm không qua xử lý. Ngoài ra hầu hết các ao nuôi lấy nước trực tiếp từ biển đều qua hệ thống lọc bằng túi vải địa kỹ thuật và diệt khuẩn bằng Chlorin 15 - 20 ppm hay Virkon 0,6 ppm .

- Thả giống : thả trực tiếp tôm Post 15 và mật độ thả từ 20 - 35 con/m2.

2. Quản lý môi trường và chăm sóc ao nuôi:

- Điều chỉnh môi trường ao nuôi để đạt được những thông số thích hơp  như ; nhiệt độ, độ mặn, pH nước, độ kiềm, Độ trong màu nước ao, hàm lượng NH3, độ sâu mức nước theo từng thời gian giai đoạn phát triển của tôm, thông qua việc định kỳ sử  dụng các chế phẩm sinh học, Zeolite, vôi và một số kỹ thuật cơ bản.

- Cấïp thêm nước ngọt vào ao trong 2 tháng đầu để bù lượng nước thất thoát do quá trình bốc hơi và thẩm lậu. Việc thay nước được tiến hành vào tháng thứ ba trở đi khi cần thiết.

-Thời gian hoạt động của máy quạt nước dựa vào tuổi tôm và hàm lượng ôxy hòa tan trong ao. Thời gian sau 80 ngày nuôi máy quạt nước hoạt động liên tục trừ lúc trước và sau khi cho ăn 1 giờ. Máy sục khí đáy hoạt động  khi cần thiết .

- Thức ăn : chủ yếu sử dụng thức ăn công nghiệp chất lượng cao.

- Để phòng bệnh bằng cách tăng sức đề kháng cho tôm, bổ sung thêm vào thức ăn một số loại sau :  các loại vitamin, men vi sinh khoáng chất và acid amin không thay thế,...

KẾT QỦA NUÔI THỬ NGHIỆM:

1- Các yếu tố thuỷ lý và thuỷ hóa:

          - Nhiệt độ : Vùng cát hấp thu năng lượng ánh sáng mặt trời lớn,ao nuôi luôn giữ nước 1-1,6met nên nhiệt độ dao động tương đối ít 27-330c ,phù hợp cho tôm phát triển.Riêng các ao nuôi vào vào thời điểm mưa,bão thì nhiệt độ nước hạ thấp,tôm chậm lớn.

pH nước : Ao nuôi tôm trên cát pH nước thường ở gía trị cao,đặc biệt 2 tháng nuôi đầu pH dao động lớn.pH dao động trong suốt vụ nuôi 7,2-9,5

Độ mặn của nước (%o): Dao động 8-25%0, tuỳ theo giai đoạn phát triển của tôm,đây là điều kiện thuận lợi cho tôm phát triển.

-Hàm lượng oxy hòa tan trong nước : Đa số các ao nuôi thử nghiệm hàm lượng oxy hòa tan đảm bảo nhu cầu phát triển của tôm.

          Nhìn chung các yếu tố môi trường tương đối phù hợp cho sự phát triển của tôm.

2. Kết qủa nuôi thử nghiệm

  Sau thời gian nuôi thử nghiệm,mặc dù gặp nhiều khó khăn như : Áp dụng các biện pháp kỹ thuật không triệt để,thời tiết không thuận lợi,mức độ đầu tư chưa phù hợp,… kết qủa thu được như sau:

 + Tôm giống thả trực tiếp P15,mật độ 25-45 P15/m2.

 + Tốc độ sinh trưởng ở các ao dao động 0,17- 0,217 gam/ngày

 + Tỷ lệ sống các ao đạt từ 29-79%.    

a.Kết qủa thu hoạch::

Nuôi tôm trên cát triển khai diện tích nuôi tôm trên cát toàn tỉnh đã đạt 8,62 ha và đạt sản lượng 17.997 kg và kết quả từng huyện như sau :

STT

Huyện (thành Phố )

Diện tích (ha)

Sản lượng( kg)

Năng suất BQ (kg/ha/vụ )

01

Qui Nhơn

2,0

3.100

1.550

02

Phù cát

2,0

3.300

1.650

03

Phù Mỹ

1,62

4.397

2.714

04

Hoài Nhơn

3,0

7.200

2.600

Tổng cộng

8,62

17.997

2.088

 

b.Hoạch toán kinh tế.

    Qua tổng kết nhận thấy giá thành sản phẩm trong các ao nuôi nằm trong khoảng 39.010 đ đến 96.279đ/kg tôm. Giá thành này phụ thuộc rất lớn vào việc chi phí cho ăn và khoảng khấu hao tài sản của mỗi ao nuôi. Ao nào quản lý thức ăn tốt, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp thì giá thành hạ từ 39.010 đ đến 41.500/kg tôm, còn có ao giá thành lên tới 96.279 đồng/kg tôm là khá cao do hệ số chuyển đổi thức ăn cao (3,3).

Ngoài ra một số ao thả giống không qua kiểm dịch tôm bị nhiễm bệnh MBV nặng và một số ao điều kiện môi trường bất nên  đạt  năng suất thấp, có ao đạt năng suất cao nhưng do việc quản lý thức ăn không tốt dẫn tới  FCR quá cao phải thua lỗ Ngoài ra có những ao lợi nhuận khá cao từ 24.960.000 -31.650.000 đồng/ao và  lợi nhuận trên 1 ha ao nuôi tôm nằm trong khoảng 124.800.000đ đến 143.863.000đ là khá cao. Như vậy nuôi tôm sú trên vùng đất cát là một hướng phát triển kinh tế có hiệu quả của vùng cát ven biển .

TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRONG NUÔI TÔM TRÊN CÁT

Việc nuôi tôm trên cát với mật độ cao đòi hỏi phải có môi trường tốt,thức ăn phải bảo đảm về chất và lượng.Tuy nhiên do trình độ,đầm chưa phù hợp nên không tránh khỏi hiện tượng ô nhiễm đáy và nước ao khi chuyển sang nuôi tháng thứ hai,tháng thứ ba,tạo điều kiện cho các bệnh vi khuẩn,vi rut và các bệnh môi trường phát triển.Thêm vào đó diễn biến phức tạp nắng,nóng và mưa kéo dài xen kẽ dễ gây sốc,ảnh hưởng sức đề kháng và tôm dễ nhiễm bệnh.

          Việc phòng bệnh cho tôm bằng cách quản lý môi trường ao nuôi và sử dụng hóa chất,CPSH để ổn định môi trường,tăng sức đề kháng,kích thích lột xác…có tác dụng nhất định nâng cao năng suất -sản lượng.

            Trong thời gian vừa qua hầu hết các diện tích nuôi tôm trên cát được tiến hành theo qui trình kỹ thuật nhưng không được triệt để nhưng nhờ sử dụng nguồn nước biển và nước ngầm sạch,đặc biệt trong nuôi tôm trên cát môi trường nước ít bị ảnh hưởng của môi trường chất nền đáy nên mới chỉ phát hiện một số bệnh thông thường như phát sáng,vàng mang ,đen mang,chậm lớn,cụt râu,đóng rong,các bệnh này do quản lý môi trường ao nuôi không tốt.Đối với một số bệnh nghiêm trọng như đốm trắng,đầu vàng chưa thấy xuất hiện .Tuy nhiên khi nuôi tôm trên cát phát triển cả bề sâu và bề rộng thì dịch bệnh,đặc biệt với các bệnh nguy hiểm vẫn có thể xảy ra.

           

HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI TÔM TRÊN CÁT TẠI BÌNH ĐỊNH TỪ MÔ HÌNH NUÔI THỬ NGHIỆM

Qua kết quả của đề tài đã thúc đẩy mạnh mẽ phong nuôi tôm trên cát phát triển. Phát triển nuôi tôm trên cát tại Bình Định đã thực hiện được các nội dung như sau :

+Xây dựng được qui trình nuôi tôm trên cát từ đề tài “ Nghiên cứu xây dựng mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên vùng đất cát ven bờ biển Bình Định”

+ Phê duyệt dự án khả thi nuôi tôm trên cát tại Phù Mỹ: Vùng nuôi tôm trên cát Phù Mỹ với tổng diện tích của dự án: 500 ha, trong đó diện tích đất sản xuất: 200 ha

+Hiện nay đang triển khai các dự án nuôi tôm trên cát của người dân,của doanh nghiệp trong nước như Doanh nghiệp Thanh Linh( 10 ha),Công ty AE(50 ha),…và ngoài nước như Công ty ASIA  HAWAII VENTURES đã triển khai dự án nuôi tôm chân trắng trên vùng cát tại huyện phù Mỹ  với tổng diện tích: 50 ha

+ Đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng dự án.

+ Đã tiến hành thả nuôi và thu hoạch năm 2003 là 50 ha.

Bên cạnh đó một số bà con ngư dân tự bỏ vốn đầu tư xây dựng ao nuôi tôm trên cát tại các huyện Phù Mỹ,Hoài Nhơn,và thành phố Qui Nhơn.Phong trào phát triển nuôi tôm trên cát tại Bình Định còn được thể hiện qua dự án đầu tư phát triển nuôi tôm trên cát kết hợp trồng rừng với qui mô 115 ha của Bộ Thủy Sản đầu tư dự án tại huyện Phù Cát-Bình Định.Tiềm năng phát triển nuôi tôm trên cát theo qui hoạch của Tỉnh ước khoảng 1.300 ha đảm bảo nguồn nước ngọt nuôi tôm bền vững.

 

MÔI TRƯỜNG VỚI VÙNG NUÔI TÔM TRÊN CÁT

THUẬN LỢI VỀ MÔI  TRƯỜNG TỪ NUÔI TÔM TRÊN CÁT:

1. Phát triển nuôi tôm trên cát là khai thác,cải tạo khu vực hoang hóa thành hữu ích: Các ao hồ nuôi tôm làm tăng độ ẩm không khí,trồng cây muống biển giữ bờ ao,tiến tới trồng cây lâm nghiệp,phát triển mô hình Rừng-Tôm,cùng với phát triển dân sinh kết hợp bảo vệ an ninh quốc phòng.                       

2. Về kỹ thuật

- Nuôi tôm trên cát phù hợp hình thức nuôi công nghiệp khép kín,ít thay nước với năng suất cao.Trong quá trình nuôi hạn chế được sự lay truyền mầm bệnh theo chiều ngang.Đồng thời trong nuôi tôm trên cát sử dụng nguồn nước sạch nên ít có nguy cơ bị nhiễm bệnh do nguồn nước và môi trường xung quanh.

- Nuôi tôm trên cát dễ dàng cải tạo đáy ao .

- Xử lý làm sạch ao trong quá trình nuôi bằng cách siphon đáy làm giảm thiểu ô nhiễm hữu cơ thuận lợi hơn nuôi tôm trong ao đất.

-Hạn chế việc dùng thúôc và kháng sinh trong qúa trình nuôi nhằm bảo đảm ATVS trong NTTS.

3. Về mặt xã hội :

Việc nuôi tôm trên cát có thể tiến hành được trên vùng đất nông nghiệp hoang hóa hoặc sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả,giải quyết việc làm góp phần chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp,giảm áp lực khai thác ven bờ,nâng cao đời sống nhân dân,tạo ra môi trường cảnh quan sinh thái mới cho dãi ven biển.Đây là việc làm phù hợp với chủ trương của nhà nước, của ngành thủy sản .Đồng thời việc nuôi tôm trên cát được tiến hành trong vùng đất hoang hóa dễ dàng trong việc tiến hành qui hoạch cơ sở hạ tầng.

 

NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ MÔI TRƯỜNG TỪ NUÔI TÔM TRÊN CÁT

1.Khai thác nước ngầm cho vùng nuôi tôm :

Từ thực tiễn sản xuất và tham khảo ý kiến một số địa phương có nuôi tôm trên cát có thể ước tính lượng nước ngọt cần cấp cho một ha nuôi tôm trên cát :

Nếu nuôi hai vụ /ha /năm thì lượng nước ngọt cần khoảng 32.460-54.600m3.(Theo Vụ KHCN - Bộ Thủy Sản )

+ Vùng cát ven biển thường ít nước ngọt ,trữ lượng nước ngầm thấp và không đáp ứng cho NTTS với qui mô lớn, Nếu lạm dụng qúa mức việc sử dụng nước ngầm ở các giếng khoan dễ dẫn đến lún sụt địa tầng và tăng thâm nhập mặn lấn sâu vào khu vực nội đồng.Do vậy cần có sự đầu tư của nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi,xây dựng hệ thống thủy lợi,kênh mương cấp thoát nước,xử lý nước thải phục vụ cho nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững.

2.Vấn đề xả nước thải từ hồ nuôi tôm:

    Việc qui hoạch vùng nuôi chưa được quan tâm đúng mức,hiện nay ở một số vùng nuôi tôm mang tính tự phát,hấu như không có khâu xử lý nước thải cho mỗi ao nuôi trước khi thải ra môi trường,việc xả nước thải ao nuôi tôm tại bờ là góp phần làm ô nhiễm nguồn nước ngầm,ảnh hưởng đến cây trồng và dân sinh.

3Đánh giá việc xâm thực nước mặn :

Do việc nước được thải trực tiếp vào vùng cát ven biển nên phạm vi nhiễm mặn lớn . Kết quả theo dõi quá trình nhiễm mặn ở 02 ao tại Bình Định như sau :

Bảng :Kết quả quan trắc xâm thức nước mặn ra môi trường của 02  ao

 

 

Đợt quan trắc

 

Ngày tháng quan trắc

Diễn biến mực nước và độ mặn trong các giếng nước

 

 

Ghi chú

Giếng số 1

Giếng số 2

Giếng số 3

Giếng số 4

Cao trình mức nước (m)

Độ mặn (%o)

Cao trình mức nước (m)

Độ mặn (%o)

Cao trình mức nước (m)

Độ mặn (%o)

Cao trình mức nước (m)

Độ mặn (%o)

 

I

10/05/02

2,42

0

2,40

0

2,35

8,5

2,30

8,5

Giai đoạn thay nước thả trực tiếp vào vùng cát ven biển

11/05/02

2,42

0

2,40

0

2,35

8,8

2,30

8,5

12/05/02

2,40

0

2,38

0

2,35

9,0

2,30

8,8

 

II

01/06/02

2,15

0

2,10

0

2,00

3,5

1,95

3,6

Giai đoạn không thay nước

02/06/02

2,15

0

2,10

0

1,95

3,4

1,90

3,5

03/06/02

2,10

0

2,05

0

1,95

3,6

1,90

3,6

 

III

05/07/02

1,55

0

1,50

0,3

1,45

10,5

1,40

10,4

Giai đoạn thay nước

05/07/02

1,50

0

1,45

0,4

1,38

10,7

1,30

10,5

06/07/02

1,50

0

1,45

0,4

1,38

10,7

1,30

10,6

 

IV

03/08/02

0,70

0,5

0,65

1,5

0,55

5,5

0,50

5,3

Giai đoạn không thay nước

04/08/02

0,70

0,5

0,65

1,5

0,55

5,5

0,50

5,5

05/08/02

0,68

0,5

0,60

1,4

0,54

5,6

0,48

5,5

 

Qua bảng trên ta nhận thấy sự xâm nhập của nước mặn ra môi trường khi xả nước mặn vào vùng cát phụ thuộc vào sự vận động của nước ngầm ở trong vùng cát .Nước ngầm ở trong cát chảy về phía biển do đó mực nước  chỉ lan truyền từ điểm xả ra phía biển .Điều này cho thấy nếu các ao nuôi bố trí sâu vào bên trong các vùng cát và xả nước tại chỗ thì khả năng nhiễm mặn sẽ lớn.

4.Rủi ro có thể xảy ra đối với việc nuôi tôm trên cát:

Hiện nay,các địa phương,người dân tự bỏ vốn xây dựng ao đầm nuôi tôm trên cát.Phong trào phát triển mạnh trong bối cảnh tự phát ,người dân thiếu kiến thức về KT , nên dễ dẫn đến tình trạng :         

+ Rừng phòng hộ có thể bị thu hẹp với tốc độ nhanh.

+ Khai thác nước ngầm bừa bãi ,có thể dẫn đến tình trạng qúa mức ,làm lún sụt địa tầng,tăng thâm nhập mặn,ảnh hưởng trực tiếp đến dân sinh.

+ Xả nước thải trực tiếp từ ao nuôi ra môi trường xung quanh không đúng nơi qui định,dễ phát sinh lay lan dịch bệnh tôm nuôi và ô nhiễm nguồn nước ngầm.

+ Thiếu thận trọng trong khảo sát chọn địa điểm xây dựng ao nuôi ,việc phát triển ao nuôi không đi đôi với trồng rừng che chắn(Đặc biệt đối với khu vực nhiều gió cát )

+ Một số khu vực bãi ngang,do đặc điểm địa hình phức tạp ,việc đặt hệ thống cấp nước vô cùng khó khăn,nếu tính toán không kỹ dễ dẫn đến tình trạng xây dựng  xong không sử dụng được hoặc thời gian sử dụng qúa ngắn so với kinh phí đấu tư.

+ Chi phí đầu tư nuôi tôm trên cát phải đòi hỏi vốn lớn,kể cả vốn xây dựng cơ bản và vốn sản xuất ,nằm khỏi khả năng của đa số bà con ngư dân vùng bãi cát ven biển nhưng chưa được nhà nước đầu tư về cơ sở hạ tầng.

+ Về mặt kỹ thuật:

- Các yếu tố môi trường như nhiệt độ,độ mặn và độ sâu mực nước trong ao hồ tôm thường có sự biená động lớn,ảnh hưởng đến qúa trình nuôi tôm.

-Về mặt kỹ thuật ao hồ có chất đáy là cát nghèo dinh dưỡng vì vậy trong thời gian đầu khó gây màu nước .Để duy trì sự phát triển của tảo phái dùng biện pháp bón phân gây màu.Dùng các chế phẩm sinh học để tạo sự phát triển ổn định của hệ VSV có lợi trong nước,ổn định môi trường trong ao nuôi tôm.

         

GIẢI PHÁP CẦN ÐƯỢC THỰC HIỆN NHẰM CẢI THIỆN VỀ MÔI

TRƯỜNG VÀ NÂNG CAO NĂNG SUẤT TÔM NUÔI

1.Qui hoạch là giải pháp hàng đầu,là cơ sở xây dựng  các dự án đầu tư phát triển nuôi tôm để khai thác có hiệu qủa và bền vững nguồn tài nguyên đất cát.

2.Ưu tiên phát triển nuôi tôm trên cát tại những vùng hoang mạc nhằm cả hai mục đích phát triển kinh tế và cải thiện môi trường (Tăng độ ẩm không khí,phát triển trồng rừng)

3.Xây dựng dự án phát triển nuôi tôm trên cát cần quan tâm các vấn đề sau :

+ Phải có báo cáo đánh gía tác động môi trường ,trong đó có phần đánh gía trữ lượng nước ngầm để làm căn cứ cho việc mở rộng diện tích và phân vùng nuôi các đối tượng phù hợp .

+ Đối với Dự án phát triển vùng nuôi tôm sú tập trung ( vài chục ha trở lên ) điều kiện tiên quyết là phải có nguồn nước ngọt được cung cấp từ các hồ chứa,sông ,suối,…

+ Nếu khu vực chỉ có nguồn nước ngầm duy nhất DA cần phân vùng SX các đối tượng nuôi phù hợp : Một phần diện tích  nuôi tôm sú (Cân đối với lượng nước ngầm),phần còn lại nuôi các đối tượng thủy sản khác như :Oác hương,nhuyễn thể,cá,…

+ Đối với vùng hay có bão cát phải nghiên cứu kỹ về vị trí đặt ao nuôi,hệ thống cấp nước và có giải pháp phòng ngừa như : Trồng rừng phi lao chắn cát,…

4.Về Kỹ thuật :

+ Đáy ao lót lớp cát dày 30-50cm ( Phù hợp đặc tính sống vùi của tôm )

+ Nuôi tôm thực hiện chế độ ít thay nước nhằm hạn chế dịch bệnh lay lan.

+ Nước ao nuôi được xử lý và làm sạch bảo đảm lượng nước đầy đủ theo từng giai đoạn phát triển của tôm theo yêu cầu KT.Chỉ nên thả giống tôm P15 để tránh lay lan dịch bệnh.Mật độ giống thả giới hạn 30-40 con/m2.

+ Cần điều chỉnh độ muối thích hợp theo từng giai đoạn phát triển của tôm

5.Chuyển tải thông tin đến người dân về các chính sách phát triển sản xuất và các qui định có liên quan đến vấn đề bảo vệ MT và phát triển nuôi tôm bền vững.

6.Thành lập các hợp tác xã,tổ hợp tác,chi hội nuôi tôm để bảo đảm sự phát triển bền vững về môi trường của cộng đồng.Đồng thời hình thành các tổ chức sản xuất lớn ,tạo ra sản phẩm hàng hóa chất lượng cao.

7. Tăng cường chuyển giao kỹ thuật cho các dự án  nuôi tôm trên cát để đẩy mạnh sự phát triển khoa học kỹ thuật cho dân nghèo ven biển.  

 

KẾT LUẬN

- Điều kiện tự nhiên vùng ven biển Bình Định, hoàn toàn thuận lợi cho việc nuôi tôm trên cát .Như có nguồn nước biển và nguồn nước ngọt sạch và dồi dào(Từ các hồ chứa thủy lợi và từ đầm nước ngọt 1.200 ha),các chỉ tiêu môi trường đảm bảo cho quá trình nuôi.

 - Về xây dựng ao nuôi : Ao nuôi có diện tích từ 2000- 5000m, hệ số mái từ 1,0 - 1,5 là phù hợp. Lót đáy ao và mái bờ ao bằng nilông chống thấm , gia cố mái bờ ao bằng tấm pêtông đúc sẵn hay dùng đất sét chống thấm và gia cố bờ ao là kinh tế và đảm bảo chất lượng công trình nuôi .Để đảm bảo cho quá trình nuôi cũng như giữ cho môi truờng vùng nuôi không bị ô nhiễm, hệ thống ao nuôi phải có ao chứa lắng chiếm 25 -30% diện tích ao nuôi và có hệ thống xử lý nước thải trước khi đưa ra ngoài môi trường.

- Chi phí xây dựng trên 1 ha ao nuôi là 188.488.000 - 228.488.000đ mức đầu tư cao hơn ở ao đất nhưng người dân có thể chấp nhận được.

 - Qua kết quả thực hiện nuôi thử nghiệm đã chứng tỏ ưu điểm của việc thực hiện nuôi tôm sú trên vùng đất cát ven biển Bình Định  hạn chế  dịch bệnh và tránh được sự lây lan khi có dịch bệnh xảy ra. Việc nuôi tôm được tiến hành quanh năm, vào những tháng nuôi mà điều kiện môi trường bất lợi (mùa đông) nhưng qua theo dõi không có dịch bệnh xảy ra trong ao, như vậy sẽ ổn định được năng suất nuôi.

          - Các yếu tố môi trường trong ao nuôi hầu hết  thuận lợi cho sự phát triển của tôm, riêng yếu tố tố pH trong giai đoạn đầu và COD, NH3, H2S trong tháng nuôi cuối không phù hợp cho sự phát triển của tôm, làm giảm khả năng bắt mồi và làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của tôm. Tuy nhiên các yếu tố này có thể khắc phục được nếu hệ thống xây dựng ao nuôi đảm bảo và thực hiện tốt quy trình kỹ thuật.     

          - Đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên vùng đất cát ven bờ biển Bình Định đã khẳng định nuôi tôm sú trên vùng đất cát được cho năng suất cao và có lợi nhuận .

-Đã xây dựng được qui trình nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh bằng phương pháp ít thay nước với các thông số : về thiết kế xây dựng ao nuôi, chuẩn bị ao nuôi, thả giống, cho ăn, quản lý chăm sóc, phòng trừ bệnh và thu hoạch.

 QUY TRÌNH NUÔI TÔM TRÊN CÁT TẠI BÌNH ĐỊNH.

A.TRANG THIẾT BỊ PHỤ TRỢ:

          + Máy bơm nước các loại.

          + Hệ thống cánh quạt nước,máy thổi oxy đáy.

          + Dụng cụ đo các yếu tố môi trưòng như:

                   * Dụng cụ đo pH nước.

                   * Dụng cụ đo độ kiềm.

          * Dụng cụ đo khí độc NH3.

                   * Dụng cụ  đo hàm lượng oxy hòa tan trong nước.

          + Các loại vật rẻ tiền mau hỏng :

                   * Chài thu tôm,nhá thức ăn,xô nhựa,cân 1 kg,...

 

B.KỸ THUẬT NUÔI TÔM SÚ BÁN THÂM CANH - THÂM CANH

I.CÔNG TÁC CHUẨN BỊ AO NUÔI

1.Cải tạo đáy ao :

phương pháp Cải tạo khô : 

 Tiến hành tháo cạn nước, phơi khô và nạo vét sạch lớp bùn đen vụ nuôi trước tích tụ ra xa khỏi ao, đồng thời lấy nước ra vào để rửa đáy ao sạch sẽ.Nhằm cải thiện chất lượng nền đáy cát,hạn chế dịch bệnh,sau mỗi vụ nuôi phải loại bỏ đáy cát cũ và thay cát mới-sạch,kết hợp phơi nắng đáy ao 7- 10 ngày

 

2.Bón vôi :

Trước khi lấy nước vào ao nuôi bón thêm một lượng vôi nông nghiệp 800 -1.000kg/ha.

3. Rào lưới ngăn chặn giáp xác bên ngoài tùy vào ao :

 - Làm tấm nilon (PE hoặc PP) hoặc dùng lưới 3 lớp ngăn cua,... rào quanh ao, chiều cao khoảng 40-60cm, chôn chân 10-20cm.

Công tác chuẩn bị ao nuôi thời gian khoảng 15-20 ngày.

 

II.CÔNG TÁC CHUẨN BỊ NƯỚC NUÔI

1. Kỹ thuật lấy nước vào ao nuôi :

          Nước lấy vào ao nuôi phải qua túi lọc (vải địa kỹ thuật hoặc vải xoa). Lấy nước vào 1 lần, mực nước ban đầu 1-1,2m.Bảo đảm nước trong sạch,hạn chế địch hại vào ao.Việc lấy nước vào ao nuôi một lần nhằm :   

- Hạn chế đưa mầm bệnh vào ao nuôi.

- Tránh hiện tượng thay đổi các yếu tố môi trường đột ngột gây sốc cho tôm.

Thời gian lấy nước vào ao nuôi 2-4 ngày

 

2.Lắp đặt hệ thống máy quạt nước vào ao nuôi:

  Sau khi lấy nước vào ao nuôi cần lắp đặt hệ thống máy quạt nước vào đúng các vị trí trong ao nuôi.Hệ thống máy quạt nước và bờ ao tạo góc 70-80o và các cánh quạt liên kết với nhau.

3.Xử lý nguồn nước:Việc xử lý nguồn nước có thể xử lý theo một trong hai cách sau

Cách 1:

a. Diệt vật chủ trung gian :

          Sau khi lấy nước vào ao nuôi, cho máy quạt nước hoạt động từ 2-3 ngày, dùng loại thuốc diệt giáp xác: Neguvon : 0,65-1g/m3 nước hoặc có thể dùng các loại khác theo hướng dẫn nhà sản xuất.

b. Xử lý mầm bệnh:

          Sau khi diệt giáp xác 2-3 ngày,có thể dùng một trong các loại hòa chất, thuôcú diệt khuẩn như : Iodophor nồng độ 1ppm, tốt nhất xử lý ban đêm hoặc Virkon 0,65 ppm;Guardo 0,5ppm.;Crente 0,65ppm,...

c. Diệt các loài cá tạp :

          Sau khi xử lý nguồn nước 2-3 ngày,có thể tiêu diệt các loài cáï tạp bằng Saponin vào thời điểm 4-5h sáng hoặc 22-24h trong ngày.

          Độ mặn > 20%o, liều dùng 10-15 ppm.

          Độ mặn < 20%o, liều dùng  15-20ppm.Sau khi diệt cá tạp 1-2 ngày có thể cấy men vi sinh.

Cách 2:

          Xử lý Chlorin 20-25ppm nhằm tiêu diệt các loài giáp xác,cá tạp và xử lý nguồn nước.Chú ý việc xử lý chlorin sẽ ảnh hưởng việc gây màu nước và quản lý màu nước trong thời gian đầu vụ nuôi.Sau khoảng 5-7 ngày xử lý chlorin có thể cấy men vi sinh.

4. Cấy men vi sinh - Gây màu nước :

 Cấy men vi sinh liên tục 3-5ngày, có thể dùng một trong các loại men như sau :Bio-Waste, BRF2, CozymS,Epicin, Bio-Actor, BiobacM,... Trong thời gian cấy men vi sinh tăng cường hoạt động máy quạt nước để hạn chế tảo đáy và gây màu nước bằng phân vô cơ hoặc phân hữu cơ, để phát huy tác dụng của phân cần phải bón vôi vào sáng sớm để gây màu nước.

Lượng phân vô cơ Ure,NPK tỷ lệ 1:1, liều lượng 1g/m3 nước/ngày  hoặc CPSH Robi-Biotech gây màu, vôi từ 10-15g/m3 nước, bón vào lúc 7-8 giờ sáng. Khi độ trong đạt 40-45 cm là thích hợp.Đối với một số ao khó gây màu nước cần gây màu nước bằng hỗn hợp bột cá,bột cám gạo,bột đậu nành tỷ lệ 4:1:1, liều lượng 1ppm/ngày liên tục 3-5 ngày.

Thời gian chuẩn bị nước nuôi 12-15 ngày

5.Chất lượng nước lúc thả tôm giống :

+ Các yếu tố môi trường yêu cầu là :

          Độ kiềm      : 80-100ppm                             Oxy hòa tan           : 5-6 mg/l

          Nhiệt độ nước : 28-30oC                      pH               : 7,5-8,5

          Độ trong      : 40-45 cm                       Độ mặn       :  10%o-25%0

          Độ sâu                  : 1-1,2m

          Sau khi kiểm tra chất lượng nước đạt yêu cầu có thể tiến hành thả tôm giống.

III. TÔM GIỐNG

1- Chất lượng tôm giống :

Tôm giống phải được kiểm tra chất lượng bằng cách ””Sốc”” formol nồng độ 100-200 ppm trong 1,5-2 giờ và tỷ lệ sống phải lớn hơn 90% hoặc phải được kiểm dịch qua CCBVNLTS.

2- Mật độ thả tôm :

          Mật độ thả tôm từ 20-30 con P15/m2 tuỳ thuộc :

          - Trình độ người quản lý.

          - Điều kiện ao nuôi tôm, mức độ đầu tư về vốn và trang thiết bị phụ trợ, ...

3- Kỹ thuật thả tôm giống :

          Sai biệt độ mặn nước ở trại giống và ao nuôi không vượt quá 5%o.Cần thuần hóa độ mặn và nhiệt độ nước trong thời gian 30 phút trước khi thả tôm ra môi trường ao nuôi tôm.

IV. THỨC ĂN VÀ KIỂM SOÁT THỨC ĂN

          Cho ăn hoàn toàn thức ăn công nghiệp như : Ba Đồng Tiền Vàng, uni President (UP), Cargill, KP,CP,... Chia lượng thức ăn trong ngày làm 4-5 lần. Tuỳ theo mỗi loại thức ăn khác nhau mà cho ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất đồng thời phải xác định tỷ lệ sống,trọng lượng bình quân tôm nuôi mà cho lượng thức ăn phù hợp cho mỗi ao nuôi. Thức ăn cần trộn bổ sung các loại khoáng, vitamin, men tiêu hóa và áo bên ngoài bằng dầu mực hoặc dầu cá.Tăng cường sức đề kháng cho tôm nuôi thông qua con đường thức ăn:

+ Từ ngày thả nuôi đến ngày thứ 15

          Men tiêu hóa           5g

          E-StayC                3g              1kg thức ăn công nghiệp

          Dầu mực               20ml

          Sulftrim                 5g

+Từ ngày thứ 15 cần trộn bổ sung vào TA các Acidamin, vitamin, khoáng :

Higro-Biotic 4000  5g

E-StayC                3g               

Shrimp Park 200    5g                1 kg thức ăn công nghiệp

 Khoáng chất          5g     

Dầu mực               20ml

V. QUẢN LÝ ĐÁY AO VÀ CHẤT LƯỢNG  NGUỒN NƯỚC :

1- Quản lý đáy ao :

1.1 Dùng phương pháp cơ học :

  Dùng máy hút bùn để loại bỏ bớt lượng mùn bã hữu cơ ra khỏi ao, khi áp dụng phương pháp này thì nên chia nhỏ phần đáy ao dơ bẩn ra làm nhiều phần nhỏ. Sau mỗi lần hút bùn(Siphon ) xong thì bón một ít vôi hoặc Zeolite bột tại những nơi nước đục để lắng một số chất vẩn lơ lửng và hạn chế tác hại của khí độc.Có thể tiến hành siphon từ tháng nuôi thứ 2,chú ý theo dõi sức khỏe tôm trước khi và sau khi Siphon.

1.2 Phương pháp sinh học :

 Sử dụng định kỳ men vi sinh BRF2, Bio-waste, Epicin, ... Thời gian và liều lượng giữa 2 lần phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi ao nuôi khác nhau.

2- Quản lý nước, các yếu tố môi trường :

2.1 Chế độ thay nước :

   Lượng nước thay tuỳ vào thời gian nuôi tôm và tình trạng sức khỏe tôm trong ao. Chế độ thay nước linh động theo đặc điểm từng ao nuôi.Có thể thay nước từ 8-10 lần trong mỗi vụ nuôi.Nguồn nước phải được xử lý qua ao lắng hoặc từ các nguồn nước ngầm trong sạch.

2.2 Quản lý độ sâu mực nước ao nuôi:

          Mực nước ao nuôi nâng cao dần theo từng tháng nuôi,có thể duy trì mực nước nuôi theo các tháng như sau:

          Tháng thứ 1: Duy trì mực nước 1-1,2m

          Tháng thứ 2:Duy trì mực nước 1,2-1,4 m

          Tháng thứ 3: Duy trì mực nước 1,4-1,6m

          Tháng thứ 1: Duy trì mực nước 1,6-1,8m

          Chú ý : Khi mực nước nâng cao> 1,4m cần phải có hệ thống oxy đáy.

2.3 Quản lý độ mặn :Các ao nuôi chủ động được nguồn nước mặn và nước ngọt có thể điều chỉnh độ mặn theo các tháng nuôi như sau :

          Tháng thứ 1 :Duy trì độ mặn 20-25 %o

          Tháng thứ 2 :Duy trì độ mặn 15-20 %o

          Tháng thứ 3 :Duy trì độ mặn 10-15 %o

          Tháng thứ 4 :Duy trì độ mặn 25-30 %o

2.4 Quản lý pH nước :

 Quản lý pH nước từ 7,5-8,7, biến động trong ngày không quá 0,5.Nếu pH thay đổi nhiều, quá cao hoặc quá thấp, màu nước bình thường, dùng vôi nông nghiệp hoặc vôi đen {MgCa(CO3)2} 100-200 kg/ha vào mỗi buổi tối 22-23h nâng độ kiềm kết hợp cấy men vi sinh cho đến khi pH trong ngày không biến động nhiều.

 Nếu pH buổi sáng 8,3 trở lên, giảm pH nước bằng cách thay bớt nước 20-30% lượng nước ao,kiểm tra độ kiềm và kết hợp cấy men vi sinh liên tục  như Bio - waste, Epicin ... trong 2-4 ngày,đường cát 2-3g/m3 /ngày đến khi pH giảm và ổn định.

2.5 Quản lý độ kiềm :

  Tôm mới thả, độ kiềm từ 80-100 ppm. Tôm 60 ngày tuổi trở lên, độ kiềm 100-120 ppm. Tôm 90 ngày tuổi trở lên, độ kiềm >120ppm.

 Nếu độ kiềm thấp nên dùng CaMg(CaCO3)2hoặc vôi sống CaC03100 - 200kg/ha, kết hợp xử lý giảm mật độ tảo trong ao,độ kiềm quá cao thì hạn chế bón vôi và thay nước.

2.6 Quản lý màu nước-độ trong :

   Duy trì độ trong từ 30-45cm là thích hợp . Độ trong  < 20cm, nên thay nước và dùng vôi đen {MgCa(CO3)2} : 180-300kg/ha để lắng bớt bùn và tảo hoặc có thể dùng formol 12ppm hay BKC để giảm mật độ tảo. Độ trong > 50cm, nước trong, cấy men vi sinh liên  tục 3-5 ngày, dùng vôi 10-15ppm vào buổi sáng kết hợp bón phân vô cơ hoặc sản phẩm Robi gây màu, kết hợp các muối dinh dưỡng để gây màu nước.Có thể dùng CPSH OdorStop định kỳ 10-15 ngày/1 lần để quản lý màu nước và giảm độ nhớt nước ao nuôi.

2.7 Quản lý chế độ sục khí, quạt nước :

  Hàm lượng oxy hòa tan 5-6 ppm là phù hợp, trong các ao nuôi tôm mật độ cao thì chế độ sục khí hay quạt nước là điều kiện bắt buộc và thời lượng hoạt động tùy theo sức khỏe tôm nuôi và đặc điểm mỗi ao khác nhau,tuy nhiên thời gian cuối vụ nuôi thời lượng hoạt động máy quạt nước càng tăng 10-14 giờ/ngày.Trong mô hình nuôi tôm trên vùng đất cát thì trong thời gian đầu khi gây màu nước cần tăng cường hoạt động hệ thống máy quạt nước 8-10giờ/ngày nhằm hạn chế tảo đáy.

2.8 Quản lý khí độc :

          Không cho ăn dư thừa thức ăn , định kỳ sử dụng men vi sinh. Trường hợp cần nhanh chóng cấp cứu tôm do ngộ độc bỡi khí độc thì sử dụng Odor-Stop,Deodorase liều lượng 0,6-1ppm, tăng cường sục khí kết hợp tăng sức đề kháng cho tôm bằng E.Stay C20/250 hoặc StayC 5gam/kg (trộn vào thức ăn công nghiệp)

VI. THU HOẠCH:

  Sau khi tôm nuôi khoảng 100 -120 ngày, trọng lượng tôm đạt bình quân 30-40 con/kg là thu hoạch. Trong thời gian 10 ngày này chúng ta cần thực hiện :

- Bón vôi Super-Ca hoặc Dolomite 10-20 ppm/lần/2-3 ngày.

- Trộn vào thức ăn khoáng chất chứa nhiều Ca, Phospho.

- Không sử dụng thuốc kháng sinh trước khi thu hoạch 28 ngày

 

Sử dụng màng chống thấm hdpe gse nuôi tôm

bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha
loader

Tìm kiếm

Hỗ trợ Online

  • vinatrade01

    Mr. Khánh

    0932 691 456

  • hongbichnga

    Ms. Nga

    0934 049 456

  • mangchongtham

    Mr. Hải

    0938 480 456

  • vinatrade01

    Mr. Duy

    0932 152 456

Facebook us

Quảng Cáo

bơm thủy lực

cộng tác viên

 

Liên kết

CÓ NHU CẦU QUẢNG CÁO?!
Liên hệ Ms. Nga
0934 049 456
Màng chống thấm  mang chong tham hdpe
9/10 1426 bình chọn

 

 

Thống kê

Tổng lượt truy cập:

1,806,848

Đang online: 7